Cổng thông tin điện tử Sở Ngoại vụ tỉnh Kiên Giang

Tin tức nổi bật

Xem với cỡ chữAA

Bản tin Ngoại giao kinh tế - Vụ tổng hợp kinh tế

(14:49 | 09/11/2020)

VỤ TỔNG HỢP KINH TẾ

          -----------

BẢN TIN NGOẠI GIAO KINH TẾ
(Thứ Ba, ngày 03/11/2020)

***

Tin vắn

  • Covid19 được dự đoán kéo FDI toàn cầu giảm mạnh trong 2020.
  • Kinh tế Mỹ trong quý III/2020 tăng trưởng 33,1%, mức mạnh nhất từ năm 1947.
  • Trung Quốc tiến hành thực hiện đầy đủ các chương trình giãn nợ của G20.
  • Italia thông qua kế hoạch cứu trợ Covid19 mới trị giá 5 tỷ Euro cho các khu vực kinh tế bị ảnh hưởng nhiều nhất do các biện pháp kiềm chế Covid-19.
  • Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ giảm 5,5%.
  • Campuchia dự kiến thông qua Luật Đầu tư mới vào tháng 11/2020.
  • Xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng trong năm 2020.
  • IMF đánh giá kinh tế Việt Nam đứng thứ 4 Đông Nam Á trong năm 2020.

Bài phân tích/Tin chuyên sâu:

GDP có thể nói lên điều gì về kinh tế hậu đại dịch (The Economist, 29/10)

 A. KINH TẾ THẾ GIỚI

  • Đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 dự đoán sẽ kéo nguồn vốn FDI toàn cầu giảm 40% trong năm nay và phải đến năm 2022 mới có thể phục hồi. Theo báo cáo UNCTAC, các biện pháp phong tỏa chống dịch và viễn cảnh suy thoái toàn cầu trầm trọng đã thu hẹp đáng kể nguồn FDI, vốn là thước đo đầu tư xuyên biên giới của khu vực tư nhân. UNCTAD cho biết trên toàn thế giới, trong 6 tháng đầu năm 2020, FDI đã giảm 49% so với cùng kỳ năm ngoái và tất cả các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đều bị ảnh hưởng, từ vốn cho cơ sở hạ tầng, cho tới mua bán và sáp nhập. (VietnamPlus, 27/10)
  • Trước tác động to lớn của đại dịch Covid-19, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng kinh tế toàn cầu sau đại dịch sẽ rất khác so với trước đây. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger cho rằng đại dịch Covid-19 sẽ làm thay đổi trật tự thế giới. IMF chỉ ra rằng, Covid-19 là cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng nhất kể từ chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây. Mức độ nghiêm trọng đã vượt xa khủng hoảng tài chính 2008, thậm chí vượt cả Đại suy thoái ở Mỹ vào những năm 1930. Giới phân tích phố Wall đánh giá đại dịch sẽ khiến GDP toàn cầu mất ít nhất hơn 5.000 tỷ USD. Riêng Hoa Kỳ, nền kinh tế hàng đầu thế giới, có khả năng sẽ trải qua một chu kỳ yếu kém trong thời gian dài, khi kết hợp với mức nợ cao và ảnh hưởng đến chi tiêu liên bang. (ASEM Connect Vietnam, 28/10)

1. Mỹ

  • Theo số liệu do Bộ Thương mại Mỹ mới công bố, sau khi suy thoái ở mức kỷ lục, kinh tế Mỹ ghi nhận mức phục hồi mạnh nhất từ trước đến nay khi tăng trưởng 33,1% trong Quý III/2020. Đây là mức tăng trưởng hàng quý cao nhất kể từ khi dữ liệu được thu thập vào năm 1947. Trước đó, kinh tế Mỹ đã giảm 31,4% trong quý II/2020, cũng là giai đoạn nghiêm trọng nhất của dịch Covid-19, và giảm 5% trong quý I/2020. Theo Bộ Thương mại Mỹ, việc doanh nghiệp và người tiêu dùng tăng chi tiêu đã góp phần giúp kinh tế Mỹ tăng trưởng kỷ lục trong quý III/2020. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cảnh báo phần lớn thành quả này là do gói hỗ trợ trị giá hơn 3.000 tỷ USD của Chính phủ trong thời gian đầu của dịch Covid-19. Các dữ liệu khác cho thấy chi tiêu đã “hạ nhiệt” trong tháng 9/2020 và quá trình phục hồi cũng đang đi xuống. (CNBC, 29/10)
  • EU đang chuẩn bị các biện pháp đáp trả Mỹ sau khi WTO xác nhận EU có quyền trả đũa Mỹ vì trợ cấp bất hợp pháp dành cho hãng sản xuất máy bay Boeing. Theo đó, EU có thể tăng thuế đối với khối hàng hóa xuất khẩu của Mỹ với trị giá lên tới 4 tỷ USD. Ủy viên Thương mại của EC Valdis Dombrovskis cho biết hiện tại Ủy ban đang hoàn thiện quy trình chuẩn bị các biện pháp trả đũa với sự tham vấn chặt chẽ từ các thành viên EU. Ông Dombrovskis nhấn mạnh ưu tiên của EU là đạt được giải pháp tháo gỡ vấn đề thông qua đàm phán với Mỹ nhưng nếu không đạt được kết quả đàm phán như mong đợi, EU sẵn sàng có hành động tuân thủ phán quyết của WTO. Ông Dombrovskis cũng cho biết thêm vẫn giữ liên lạc thường xuyên với đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer. (Reuters. 29/10)

2. Trung Quốc

● Thứ trưởng Bộ Tài chính Trung Quốc Zou Jiayi cho biết Trung Quốc đang tiến hành thực hiện đầy đủ các chương trình giãn nợ của G20 để góp phần giảm bớt gánh nặng nợ của các nước nghèo và đạt mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh đại dịch; đánh giá các tổ chức phát triển đa phương cần đổi mới sáng tạo về các biện pháp hỗ trợ tài chính nhằm cung cấp các nguồn vốn dài hạn, ổn định với chi phí thấp. Thứ trưởng Zou Jiayi khuyến nghị IMF tăng phân bổ chung của Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) giúp tăng cường dự trữ ngoại hối và sức mua của tất cả các quốc gia thành viên, đặc biệt giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực thanh toán quốc tế và xử lý khủng hoảng gây ra bởi đại dịch. Nguyên Thống đốc ngân hàng Trung ương Trung Quốc Zhou Xiaochuan chia sẻ quan điểm trên nhưng cho rằng cơ cấu nợ có thể không phải là cách thức tốt để giải quyết vấn đề và việc thiết lập khuôn khổ chung cho tất cả bên cho vay và bên đi vay là điều khó khăn. (China Daily, 1/11)                                

● Tại Hội nghị cấp Bộ trưởng của OECD tổ chức theo hình thức trực tuyến diễn ra trong 2 ngày 28-29/10, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Du Kiến Hoa khẳng định Trung Quốc luôn cam kết thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư; thông báo thuế suất trung bình đã giảm từ 9,8% (2017) xuống 7,5% hiện tại và Chủ tịch Tập Cận Bình đề xuất đẩy nhanh hình thành một mô hình phát triển mới với tuần hoàn lớn trong nước là chủ đạo, tuần hoàn trong nước và tuần hoàn quốc tế thúc đẩy lẫn nhau. Ông Du Kiến Hoa cho biết Trung Quốc sẽ mở cửa sâu rộng hơn, mang lại nhiều cơ hội hơn cho thương mại, dịch vụ và đầu tư nước ngoài; cam kết tổ chức thành công Hội chợ Nhập khẩu quốc tế Trung Quốc lần thứ 3 (CIIE-2020). Trung Quốc hiện chưa là thành viên của OECD và bắt đầu đối thoại và hợp tác với OECD với tư cách là đối tác vào năm 2012. (ĐSQVN tại Trung Quốc, 1/11)

          3. Châu Âu

  • Chính phủ Italia thông qua kế hoạch cứu trợ mới trị giá khoảng 5 tỷ Euro cho các khu vực kinh tế bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi những biện pháp kiềm chế dịch Covid-19. Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính Italia cho biết kế hoạch mới nói trên được đưa ra nhằm cung cấp các khoản hỗ trợ không hoàn lại cho các doanh nghiệp, thực hiện một số chương trình miễn giảm thuế và bổ sung quỹ cho các chương trình hỗ trợ người lao động bị mất việc làm tạm thời. Khoảng 2,4 tỷ Euro trong khoản cứu trợ trọn gói này sẽ được dành để bù đắp cho 460.000 doanh nghiệp, thực hiện chương trình tín dụng thuế cho các đối tượng thuê nhà và hủy bỏ khoản thanh toán thuế nhà ở dự kiến vào tháng 12. (28/10, AFP).
  • Ngày 29/10, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) quyết định không thay đổi lãi suất chủ chốt và “đánh tiếng” sẵn sàng tăng cường các biện pháp kích thích để ứng phó với đại dịch Covid-19 trong cuộc họp vào tháng 12 tới. ECB quyết định vẫn duy trì lãi suất cơ bản là 0%, với lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi lần lượt là 0,25% và âm 0,5%. ECB đưa ra cam kết một ngày sau khi Pháp, Đức cùng với Italia và Tây Ban Nha áp đặt các biện pháp hạn chế mới nhằm ngăn chặn làn sóng dịch Covid-19 thứ hai, mà theo dự báo sẽ gây thêm thiệt hại kinh tế đối với các nước này (29/10, AFP).
  • Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Kinh tế Đức (DIW), đợt phong tỏa thứ hai để ngăn chặn sự lây lan mạnh của dịch Covid-19 sẽ khiến kinh tế Đức thiệt hại khoảng 19,3 tỷ Euro (22,53 tỷ USD). Theo DIW, ngành nhà hàng và khách sạn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất với thiệt hại khoảng 5,8 tỷ Euro, các lĩnh vực thể thao, văn hóa và giải trí sẽ phải đối phó với mức sụt giảm 2,1 tỷ Euro và ngành bán lẻ khoảng 1,3 tỷ Euro, ngành công nghiệp Đức thiệt hại khoảng 5,2 tỷ Euro. Để ngăn chặn sự lây lan nhanh chóng của dịch Covid-19 thời gian gần đây, Chính phủ Đức đã quyết định phong tỏa có giới hạn lần thứ hai bắt đầu từ ngày 2/11. Chính phủ Đức cũng dự kiến chi 10 tỷ Euro để hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề do đợt phong tỏa lần này (1/11, DIW).
  • IMF dự báo đà phục hồi của kinh tế Anh sẽ yếu hơn dự kiến giữa bối cảnh châu Âu đang hứng chịu làn sóng thứ hai của đại dịch Covid-19 và đàm phán thương mại giữa nước này với Liên minh châu Âu vẫn gặp trở ngại. Theo IMF, kinh tế Anh sẽ giảm 10,4% trong năm 2020 và tăng trưởng trở lại 5,7% vào năm 2021. IMF nhận định đà phục hồi mạnh mẽ hồi mùa hè đang phải đối mặt với những trận “gió ngược” từ làn sóng thứ hai của đại dịch Covid-19, sự thiếu bất ổn liên quan đến tiến trình Brexit, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và sức ép trên bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp (Reuters, 30/10

           4. Nhật Bản và Hàn Quốc

  • Nhật Bản: (i) Trong báo cáo hàng quý, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ giảm 5,5% so với dự báo giảm 4,7% đưa ra hồi tháng 7/2020. Chỉ số giá tiêu dùng của Nhật Bản dự kiến sẽ giảm 0,6% trong tài khóa 2020, thay vì giảm 0,5% trong dự báo tháng 7/2020. Tuy nhiên, đối với tài khóa 2021, BoJ đã điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng kinh tế từ 3,3% lên 3,6% và lạm phát từ 0,3% lên 0,4%. Đối với chính sách tiền tệ, BoJ giữ nguyên lãi suất âm 0,1% đối với tiền gửi ngân hàng, cũng như chính sách mua trái phiếu Chính phủ Nhật Bản không giới hạn, để đảm bảo lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm vẫn ở mức 0%. (Kyodo, 29/10); (ii) Theo số liệu của Cục Thống kê ngày 30/10, tỷ lệ thất nghiệp tháng 9 duy trì ở mức 3% như tháng trước đó liền kề - dấu hiệu mới nhất về sự phục hồi không đồng đều của nền kinh tế. Chỉ số tháng 9/2020 vẫn ở mức cao nhất kể từ tháng 5/2017, đạt 3,1%, cho thấy sự phục hồi do ngành sản xuất những tháng gần đây không đủ để bù lại mức tăng tỷ lệ thất nghiệp do đại dịch gây ra. Trong Báo cáo triển vọng theo quý ngày 29/10, Ngân hàng Trung ương nhận định “tình hình tuyển dụng và thu nhập ở mức yếu” mặc dù xuất nhập khẩu đã có dấu hiệu khôi phục (Nikkei, 30/10).
  • Hàn Quốc: (i) Ngày 29/10, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BoK) cho biết sẽ gia hạn chương trình cho vay đặc biệt cho các tổ chức tài chính nước này thêm ba tháng đến ngày 03/02/2021 để đối phó với ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. BoK đã khởi động chương trình cho vay trị giá 10 nghìn tỷ won (tương đương 8,82 tỷ USD) để cho phép các ngân hàng, các công ty môi giới và công ty bảo hiểm nhận những khoản vay từ BoK đối với tài sản thế chấp và là lần đầu tiên BoK quyết định cung cấp các khoản vay trực tiếp cho các công ty môi giới và công ty bảo hiểm (Yonhap News, 29/10); (ii) Chỉ số lòng tin kinh doanh (BSI) của các nhà sản xuất trong nước của Hàn Quốc đã tăng lên mức 76 trong tháng 11/2020, tăng từ mức 68 của tháng 10/2020 và đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 2/2020, cho thấy lòng tin vào kinh doanh của các nhà sản xuất nước này đã cải thiện trong bối cảnh những biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng sau khi số ca mắc Covid-19 bắt đầu tăng chậm lại (Yonhap News, 29/10); (iii) Theo thông tin Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc, xuất khẩu tháng 10 của nước này đạt 44,9 tỷ USD, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nhập khẩu giảm 5,8% còn 39 tỷ USD, mang lại thặng dư thương mại 5,9 tỷ USD. (Yonhap News, 01/11).

5. ASEAN và các nền kinh tế mới nổi

  • Ngoại trưởng Indonesia Retno LP Marsudi thông báo Indonesia sẽ tiếp tục được hưởng các đặc quyền thương mại trong khuôn khổ Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tới Jakarta. Bà Retno cho hay việc kéo dài GSP dành cho các mặt hàng xuất khẩu của Indonesia đã được Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) chính thức quyết định hôm 30/10 vừa qua, thể hiện mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước (Jakarta Post, 1/11).
  • Theo Bộ trưởng Kinh tế Tài chính Campuchia Aun Porn Moniroth tại Diễn đàn giữa lĩnh vực tư nhân và Chính phủ, dự luật Đầu tư mới dự kiến hoàn thiện vào cuối tháng 11 năm nay. Dự luật mới  tập trung vào những điều kiện ưu đãi và thu hút đầu tư, thiết lập môi trường cạnh tranh, đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Luật Đầu tư mới này sẽ bao quát và thu hút nhiều nhà đầu tư hơn do Campuchia đã ký kết Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với Trung Quốc và đang tiến hành đàm phán FTA với Hàn Quốc. (The Khmer Times, 30/10)
  • Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa VIII nước CHDCND Lào, Thủ Tướng Lào Thongloun Sisoulith cho biết, dù bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, Chính phủ vẫn kỳ vọng tăng trưởng kinh tế đạt 3.3% trong năm 2020 nhờ sự thúc đẩy của các dự án phát triển quy mô lớn. Các dự án này bao gồm tuyến đường sắt Lào-Trung Quốc; đường cao tốc từ Viêng Chăn đến Vangvieng; xây dựng các khu công nghiệp và cảng cạn; các dự án thủy điện và khai thác mỏ (The Laotian Times, 28/10).
  • Theo ông Nitin Gupta, Phó Chủ tịch phụ trách lúa gạo của Olam India, xuất khẩu gạo của Ấn Độ năm 2020 sẽ tăng nhờ nhu cầu về gạo non basmati tăng mạnh từ các nước châu Phi do giá bán hấp dẫn, trong khi cầu về gạo basmati tương đối ổn định. Ấn Độ còn có thể giành thêm thị phần năm 2020 với dự báo kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng gần 42%, ước đạt 14 triệu tấn (năm 2019 là 9,9 triệu tấn). Xuất khẩu gạo của Ấn Độ có thể sẽ đạt mốc kỷ lục trong năm nay do giảm cung của các nước xuất khẩu gạo đối thủ tại châu Á cũng như việc đồng rupi giảm giá, giúp tăng khả năng cạnh tranh của gạo nước này (Thương vụ Việt Nam tại Algeria, 2/11).

B. KINH TẾ VIỆT NAM

  • Theo Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới trong năm 2020 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong năm 2020, nền kinh tế Việt Nam sẽ đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, vượt Singapore và Malaysia. GDP Việt Nam năm 2020 ước tính sẽ đạt 340,6 tỷ USD, vượt Singapore với 337,5 tỷ USD, Malaysia với 336,3 tỷ USD. Cũng theo dự báo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020 là 1,8%, cao hơn so với dự báo của IMF. ADB phân tích, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự chuyển hướng sản xuất đang dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam. Trong bản cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 10/2020, Ngân hàng Thế giới (WB) khẳng định, trong tương lai kinh tế Việt Nam có thể phục hồi nhanh hơn. Các dẫn chứng của WB cho thấy, Việt Nam là một trong những nền kinh tế hiếm hoi tăng trưởng dương trong khi cả thế giới đang phải gánh chịu tăng trưởng tồi tệ chưa từng có. Theo đó, lạm phát được giữ vững dưới 4%, thặng dư thương mại lớn gần 17 tỷ USD, đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn cao. (Tại chí Thông tin Đối ngoại, 30/10).
  • Theo báo cáo khảo sát về mức độ phát triển kỹ thuât số tại 11 thị trường châu Á-Thái Bình Dương của công ty GSMA Intelligence, Việt Nam có mức tăng điểm cao nhất từ năm 2016 đến năm 2019. Tính đến hết năm 2019, Việt Nam xếp ở mức 49 điểm, tăng 12 điểm so với cách đây 3 năm. Việt Nam đạt được kết quả này nhờ bước tiến đáng kể trong “thành tố kết nối” của hệ thống xếp hạng sau khi ra mắt và mở rộng nhanh chóng mạng 4G. Ngoài ra, các thành tố khác như “nhận dạng kỹ thuật số, quyền công dân kỹ thuật số và lối sống kỹ thuật số” cũng có sự cải thiện. GSMA Intelligence lưu ý rằng Việt Nam đang theo đuổi Chiến lược Quốc gia về Cách mạng công nghiệp 4.0, bao gồm cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, cũng như chính phủ điện tử và đổi mới. Tuy nhiên, nước này vẫn còn những thách thức cần được giải quyết để đạt tiến triển hơn nữa, đặc biệt đối với các thành tố thương mại kỹ thuật số và chính sách hỗ trợ các công ty khởi nghiệp. (TTXVN tại Singapore, 2/11).
  • Theo thông tin công bố ngày 29/10 của Tổng cục Thống kê, tính chung 10 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu kỷ lục 18,72 tỷ USD. Theo cơ quan thống kê, mặc dù dịch Covid-19 ngày càng diễn biến phức tạp trên thế giới nhưng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn giữ được mức tăng dương, trong đó điểm sáng là đóng góp của khu vực kinh tế trong nước. Ước tính tháng 10/2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 26,7 tỷ USD, giảm 1,7% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 229,27 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong 10 tháng có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,9%).

C. BÀI PHÂN TÍCH/TIN CHUYÊN SÂU

GDP có thể nói lên điều gì về kinh tế hậu đại dịch (The Economist, 29/10)

Chỉ số GDP là thước đo tăng trưởng nền kinh tế, tuy nhiên trong năm 2020, GDP còn là thước đo phản ánh một phần sự thành công hay thất bại của chính phủ các nước trong kiểm soát sự lây lan của Covid-19.

Số liệu GDP năm 2020 đặt ra thách thức về cách diễn giải hàm ý đối với tăng trưởng kinh tế. Ví dụ, tại Mỹ và Nhật Bản, các nhà thống kê đưa ra mức tăng trưởng GDP so với quý trước theo tỷ lệ hàng năm, cho biết một nền kinh tế có thể mở rộng hoặc thu hẹp bao nhiêu nếu kết quả hoạt động kinh tế trong quý đó được duy trì trong cả năm. Khi các nền kinh tế bắt đầu chịu ảnh hưởng hay khi thoát khỏi các lệnh đóng cửa đã khiến các con số thay đổi đáng kinh ngạc và có thể dẫn đến nhầm lẫn. GDP thực tế của Mỹ trong Quý II/2020 đã giảm với tốc độ hàng năm là 31%, cho thấy rằng Covid-19 đã “nuốt” mất khoảng một phần ba sản lượng của nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế, sản lượng trong Quý II chỉ thấp hơn 9% so với Quý I. Ngày 29/10/2020, Cục Phân tích Kinh tế đã đưa ra báo cáo rằng kinh tế Mỹ tăng với tốc độ hàng năm là 33% trong Quý III so với Quý II, đánh dấu mức tăng kỷ lục của nền kinh tế Mỹ. Nhưng tỷ lệ sai lệch trong trường hợp này đã tăng lên gấp đôi, bởi sản lượng thực tế chỉ tăng 7,4% từ Quý II đến Quý III. Về mặt tuyệt đối, mặc dù mức tăng của Quý III (33%) là lớn hơn so với mức giảm của Quý II (31%), nhưng thực tế là tốc độ tăng trưởng Quý III trong bối cảnh sản lượng giảm do đại dịch Covid-19 cho thấy GDP của Mỹ vẫn thấp hơn gần 3% so với cùng kỳ năm trước.

IMF cũng đưa ra dự báo sản lượng toàn cầu năm 2020 sẽ giảm 4,4%. Trung Quốc là trường hợp ngoại lệ với GDP trong Quý III cao hơn 5% so với cùng kỳ năm 2019 trong khi kinh tế Đức dự báo giảm 6% trong năm nay và kinh tế Tây Ban Nha có thể giảm đến 13%. Các nhà kinh tế học coi GDP là biến “dòng chảy” ước tính sản lượng được sản xuất ra (hoặc tương đương với số tiền chi tiêu hoặc kiếm được) trong một khoảng thời gian. Nếu nền kinh tế được ví như một ống dẫn nước, thì Covid-19 là một nếp gấp thắt chặt dòng nước lại bởi các hoạt động kinh tế đã không được diễn ra bình thường do các lệnh đóng cửa. Và câu hỏi được các nhà kinh tế đặt ra là liệu nếp gấp khúc này có gây hư hỏng kéo dài cho ống dẫn nước và ảnh hưởng đến công suất lâu dài của nó, hàm ý xảy ra “độ trễ” trong phục hồi kinh tế hay không. Theo dự báo của IMF, nhiều nền kinh tế lớn như Brazil, Anh, Pháp và Nhật Bản sẽ sản xuất ít hơn vào năm 2022 so với 2019, thậm chí tại Italia tình trạng thiếu hụt có thể kéo dài tới năm 2025. Xem xét đến các yếu tố gây ra thiệt hại lâu dài cho nền kinh tế như nguồn thu nhập bị mất của các doanh nghiệp và hộ gia đình có thể dẫn đến phá sản và vỡ nợ, làm suy yếu khả năng phục hồi nền kinh tế khi mối đe dọa từ Covid-19 giảm dần. Các công ty đóng cửa, kéo theo sự thất nghiệp của người lao động. Sự thiếu hụt đầu tư cũng ảnh hưởng đến dòng chảy GDP trong năm nay và làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài hạn bằng cách giảm mức vốn trên mỗi lao động và cắt giảm tốc độ gia tăng năng suất. Thực tế cho thấy đầu tư tư nhân chiếm gần một phần tư trong mức suy giảm đáng kể của kinh tế Mỹ trong Quý II.

Các “vết sẹo” của nền kinh tế có thể được giảm thiểu nhờ kích cầu tiêu dùng của chính phủ. Nhưng cho đến nay, các khoản trợ cấp của chính phủ cũng không giúp GDP tăng nhiều do người nhận trợ cấp đã lựa chọn tiết kiệm thay vì chi tiêu hoặc bị buộc phải tiết kiệm bởi các lệnh phong tỏa. Các gói kích thích tiêu dùng của Chính phủ Mỹ đã giúp tăng thu nhập khả dụng trong Quý II2/2020, nhưng thống kê cho thấy các hộ gia đình đã tiết kiệm được 26% thu nhập, tăng từ mức 7% trong Quý II/2019. Trong khi đó, tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc năm 2020 được thúc đẩy nhờ đầu tư vào xây dựng nhà cửa và cơ sở hạ tầng. Tiêu dùng đầu tư đóng góp vào toàn bộ kinh tế Trung Quốc trong Quý II đã giúp bù đắp sự sụt giảm tiêu dùng và chiếm hơn một nửa mức tăng GDP trong Quý III. Trong trường hợp những dự án đầu tư của Trung Quốc được lựa chọn tốt thì sẽ giúp đóng góp cho sự phát triển trong tương lai. Nếu không, con số GDP ấn tượng trong năm 2020 cũng chỉ là thành tích trong thời gian ngắn của chính phủ Trung Quốc.

Không có thước đo thống kê nào là hoàn hảo. Tuy vậy, GDP vẫn là đại diện cho tình trạng kinh tế của một quốc gia tốt nhất cho đến nay. Thế nhưng đứng trước một đại dịch nghiêm trọng như Covid-19, việc quản lý một nền kinh tế hợp lý đòi hỏi phải có những trọng tâm khác./.

 Trích Bản tin Ngoại giao kinh tế - Vụ tổng hợp kinh tế